Chạm vào hơi thở đại ngàn qua 36 vườn quốc gia

Qua tuyển tập 'Cảm nhận Vườn quốc gia Việt Nam', ông Lê Minh Hoan kể về rừng như kể về con người, ký ức và những cộng đồng lặng lẽ sống dưới tán xanh.

Khi người dân thấy mình thuộc về rừng

“Rừng không thể được bảo vệ chỉ bằng biển cấm và lực lượng kiểm lâm. Rừng được bảo vệ khi người dân thấy mình là một phần của rừng.

Một người Jrai, một người Bahnar sống dưới chân Kon Ka Kinh, nếu có sinh kế bền vững từ du lịch cộng đồng, từ dịch vụ sinh thái, từ sản phẩm lâm sản ngoài gỗ, thì bà con sẽ bảo vệ rừng bằng chính lợi ích của mình”.

Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan chia sẻ tại buổi ra mắt sách. Ảnh: Bảo Thắng.

Đó là một phần cảm nhận của ông Lê Minh Hoan, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội, nguyên Bộ trưởng Bộ NN-PTNT viết về Vườn quốc gia Kon Ka Kinh trong Tuyển tập “Cảm nhận vườn quốc gia Việt Nam” vừa ra mắt. 

Ông kể, càng đi nhiều vườn quốc gia càng thấy rừng ở Việt Nam hiếm khi đứng một mình. Dưới mỗi tán rừng gần như luôn có một cộng đồng sinh sống từ nhiều đời trước. Họ thuộc từng con suối, từng mùa cây thay lá, từng đoạn đường thú đi qua. Với nhiều người, rừng không phải khái niệm cần “bảo tồn”, mà đơn giản là nơi gắn với cuộc sống của mình.

Có những cộng đồng giữ rừng bằng các luật tục có từ rất lâu trước khi xuất hiện khái niệm bảo tồn hiện đại. Có nơi kiêng chặt cây đầu nguồn. Có nơi không ai được tự ý bước vào khu rừng thiêng của làng. Có những dòng suối mà việc làm đục nước bị xem là điều có lỗi với tổ tiên.

“Nhiều quy ước nghe rất mộc mạc, nhưng lại giữ được màu xanh hàng trăm năm”, ông nói.

Cuốn sách dày hơn 100 trang, do ông Lê Minh Hoan chủ biên, xuất bản tháng 4/2026. Ảnh: Nguyễn Quỳnh.

Ông bảo mình đã đi qua 36 vườn quốc gia. Đi nhiều đến mức có những chuyến đi giờ chỉ còn nhớ lờ mờ tiếng mưa rừng dội xuống mái trạm kiểm lâm giữa đêm, hay ché rượu cần chuyền tay bên bếp lửa của người bản địa dưới chân núi. Nhưng điều ở lại sau cùng không phải tên một loài cây quý hay những con số về độ che phủ rừng. Mà là con người.

Là những kiểm lâm sống nhiều ngày trong rừng hơn ở nhà. Là những cộng đồng lặng lẽ giữ rừng bằng tập quán truyền đời. Là cảm giác con người dưới tán rừng dường như sống chậm hơn và gần thiên nhiên hơn.

Có lẽ cũng vì thế mà ông dần thay đổi cách nhìn về vườn quốc gia. Theo ông, một cánh rừng không thể chỉ được giữ bằng hàng rào hay biển cấm. Rừng chỉ thật sự được bảo vệ khi người dân sống dưới chân rừng có lý do để giữ nó. “Khi đó, họ bảo vệ rừng bằng lợi ích của mình, chứ không phải bằng mệnh lệnh”, ông nói.

Rồi ông dừng lại khá lâu trước khi nhắc lại điều mình cho rằng càng đi càng thấm thía: "Chúng ta thường nói 'phải bảo vệ rừng'. Nhưng có lẽ, trước khi bảo vệ, cần hiểu rừng. Hiểu rằng rừng không chỉ là cây, mà là nước, là đất, là không khí, là sinh kế" (trích đoạn viết về Vườn quốc gia Chư Yang Sin).

Ông Lê Minh Hoan kể lại những chiêm nghiệm của bản thân trong hành trình viết sách. Ảnh: Bảo Thắng.

Hơn 100 trang tuyển tập, ông không viết quá nhiều về số liệu hay các thuật ngữ bảo tồn. Điều hiện lên nhiều hơn là những con người sống quanh rừng. Đó là, những bản làng quanh Vườn quốc gia Bến En sống cùng hồ, cùng nếp sinh hoạt giản dị và câu chuyện truyền đời. Là một đứa trẻ ở Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà lớn lên giữa tiếng gió thông, không bao giờ coi rừng là thứ để "khai thác cho hết". Và cả người dân ở Vườn quốc gia Pù Mát hiểu rằng mất rừng là mất nước, mất cá, mất cả mùa màng.

Ông nói thiên nhiên không chỉ cho con người gỗ, nước hay khí hậu. Rừng còn giữ cho con người khả năng biết chậm lại, biết lắng nghe và biết mình nhỏ bé trước tự nhiên. “Nhiều người lên rừng rồi mới thấy lòng mình dịu xuống”, ông cười.

Có lẽ vì vậy, với ông, vườn quốc gia không chỉ là “khu bảo tồn”. Đó còn là một không gian văn hóa, một phần ký ức của đất nước. “Nếu chỉ giữ cây mà người rời đi hết, thì rừng cũng buồn”, ông nói.

Và điều khiến ông trăn trở nhất, sau những chuyến đi qua các cánh rừng, không phải làm sao để nói nhiều hơn về thiên nhiên. Mà là làm sao để người trẻ còn muốn bước vào thiên nhiên, còn rung động trước tiếng chim, một con suối đầu nguồn hay mùi đất sau cơn mưa rừng.

Bởi nếu những cảm xúc ấy mất đi, rất khó để nói với một thế hệ về tình yêu dành cho rừng.

Nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội ký và tặng sách cho cán bộ, nguyên cán bộ Bộ NN-PTNT. Ảnh: Bảo Thắng.

Rừng dạy con người cách tồn tại

Rừng dạy con người cách tồn tại

Nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn nhận xét, cuốn sách không thiên về miêu tả cảnh quan, mà dùng câu chuyện đời người để nói về rừng và cách con người ứng xử với thiên nhiên.

Cuốn sách không chỉ kể chuyện cây rừng, mà còn gợi người đọc nhìn vườn quốc gia như một phần ký ức, văn hóa và tương lai của đất nước.

Từng viết hàng nghìn bài, nổi tiếng với bút danh "Xích Lô", ông Lê Minh Hoan bảo nhiều người nghĩ mình viết về thiên nhiên, nhưng thật ra ông “mượn thiên nhiên để nói về con người”.

Ông kể, càng đi qua nhiều vườn quốc gia, càng thấy hệ sinh thái rừng giống một xã hội thu nhỏ. Trong rừng không có cái cây nào là vô nghĩa. Không có loài nào bị xem là thấp kém chỉ vì nhỏ bé hơn. Có cây cổ thụ vươn cao. Có tầng cây thấp sống dưới tán rừng. Có dây leo, thảm cỏ, nấm mục, côn trùng. “Tất cả cùng giữ cho khu rừng tồn tại”, ông nói.

Rồi ông đưa ra một hình dung rất giản dị. Một cây cổ thụ dù cao lớn đến đâu, nếu đứng một mình giữa bão gió, cũng khó tồn tại. Nó cần những tầng cây thấp giữ đất, cần thảm thực vật giữ nước, cần cả những sinh vật âm thầm dưới lòng đất mà con người ít khi nhìn thấy. “Con người cũng giống như vậy”, ông bộc bạch.

Có lẽ vì thế mà khi nhắc tới cảm hứng viết về rừng, ông không chỉ nói về tài nguyên. Ông nói nhiều hơn về sự kết nối. Ông kể có những nghiên cứu cho thấy cây rừng biết “giao tiếp” với nhau. Khi một cây bị côn trùng tấn công, những cây xung quanh có thể phát tín hiệu cảnh báo. Khi một cây yếu đi, hệ rễ trong rừng có thể chia sẻ nước và dinh dưỡng để nâng đỡ nhau.

“Thiên nhiên không có trường lớp, không giáo trình, không diễn văn. Nhưng lại chứa rất nhiều bài học cho con người”, ông chiêm nghiệm.

Cảm hứng ấy theo ông vào Vườn quốc gia Tràm Chim, nơi đất thở theo mùa. "Mùa khô - đất nứt ra như những dòng chữ cổ. Mùa nước đất chìm xuống, nhường chỗ cho nước lên tiếng. Nước không chỉ là nước. Nước mang theo phù sa, mang theo hạt giống, mang theo cả ký ức của dòng Mê Kông xa xôi. Ở đây, ranh giới giữa đất và nước không rõ ràng. Như ranh giới giữa con người và thiên nhiên vốn dĩ chưa bao giờ nên tách rời".

Hay như ở Vườn quốc gia Lò Gò - Xa Mát, "có thể thấy dấu vết của nhiều vùng đất cùng hiện diện. Có cái khô của miền Đông Nam bộ. Có cái cao của Nam Tây Nguyên. Có cái mềm của đồng bằng phía Nam. Giống như một bản hòa âm, nơi mỗi vùng đất là một nốt nhạc. Không nốt nào lấn át nốt nào. Chỉ cùng nhau tạo nên một giai điệu trọn vẹn. Dòng Vàm Cỏ Đông đi ngang qua đây, không vội vã. Nó đi như một người đã biết rõ hành trình của mình".

'Những mẩu chuyện dưới tán rừng' - một tác phẩm khác viết về rừng cũng được ông Lê Minh Hoan giới thiệu trong chiều 9/6. Ảnh: Bảo Thắng.

Bằng những lắng đọng như vậy, ông nhận ra, điều con người thường nhìn thấy chỉ là phần “hữu hình” của khu rừng, là thân cây, tán lá, gỗ quý. Nhưng thứ giữ cho khu rừng đứng vững nhiều khi lại nằm ở phần vô hình bên dưới. “Chúng ta hay nhìn cái cây mà quên nhìn phần hồn của khu rừng”, ông nói.

Với ông, phần “hồn” ấy không chỉ là thiên nhiên, mà còn là sự cộng sinh, là cách các loài nương tựa nhau để cùng tồn tại. Có lẽ vì vậy mà sau nhiều chuyến tham quan vườn quốc gia, ông càng tin việc giữ rừng không chỉ là giữ cây. Đó còn là giữ lại một bài học sống cho con người hôm nay.

Một bài học về sự chia sẻ. Về khả năng nâng đỡ nhau khi khó khăn. Và về việc không ai có thể tồn tại nếu đứng tách khỏi cộng đồng của mình.

Nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ NN-PTNT Hà Công Tuấn tặng hoa chúc mừng tác giả Xích Lô. Ảnh: Bảo Thắng.

Ông kể tại một diễn đàn sinh thái quốc tế ở Seoul năm trước, bản thân từng nhắc một câu khiến nhiều người im lặng khá lâu: “Thiên nhiên có thể tồn tại mà không cần con người. Nhưng con người thì không thể tồn tại nếu không có thiên nhiên”.

Ông nói đó không phải lời cảnh báo. Mà là cách để con người học lại sự khiêm nhường trước tự nhiên. Bởi càng bước vào rừng sâu, người ta càng thấy mình nhỏ lại. Và cũng dễ hiểu hơn vì sao những cánh rừng không chỉ cần được bảo vệ bằng luật pháp, mà còn cần được gìn giữ bằng tình yêu của thế hệ sau.

“Nếu trẻ em còn muốn bước vào thiên nhiên, còn biết rung động trước tiếng chim hay mùi đất sau mưa rừng, thì chúng ta vẫn còn hy vọng vào ngày mai”, ông bày tỏ.

Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm Trần Quang Bảo ấn tượng với thông điệp được nhấn mạnh nhiều lần trong cuốn sách là tư duy “bảo vệ rừng bằng tình yêu với rừng”. Theo đó, nếu người dân sống được nhờ rừng, hưởng lợi từ du lịch sinh thái, lâm sản ngoài gỗ hay các giá trị văn hóa bản địa, họ sẽ trở thành lực lượng giữ rừng bền vững nhất.

Cuốn sách cũng gợi ra một cách tiếp cận mới với vườn quốc gia. Không chỉ nhìn rừng như tài nguyên cần bảo vệ, mà còn như “một dòng đời”, nơi con người học lại sự cân bằng với thiên nhiên. “Rừng là nguồn sống. Không chỉ cho hôm nay, mà cho cả thế hệ mai sau”, ông chia sẻ.

Theo: nongnghiepmoitruong.vn