Vườn quốc gia Hoàng Liên: Phát hiện loài Ếch bám đá mới cho khoa học

Các nghiên cứu đã tiến hành so sánh đặc điểm hình thái và phân tích mối quan hệ di truyền giữa loài mới với các loài cùng giống Amolos phân bố ở Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Lào... Phát hiện này được công bố trên tạp chí ZooKeys, số 1256: 235–257 (2025).Các nghiên cứu đã tiến hành so sánh đặc điểm hình thái và phân tích mối quan hệ di truyền giữa loài mới với các loài cùng giống Amolos phân bố ở Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan, Lào... Phát hiện này được công bố trên tạp chí ZooKeys, số 1256: 235–257 (2025).

Mẫu chuẩn loài Amolops cuongi, mẫu đực

Loài mới được đặt tên theo tên của chuyên gia Lưỡng cư Phạm Thế Cường ở Viện Sinh học, người đã có nhiều đóng góp cho công tác nghiên cứu Lưỡng cư ở Việt Nam.

Loài Ếch suối cường (Amolops cuongi Pham, Hoang, Tapley, Nguyen, Nguyen, La, Ziegler, Rowley, Nguyen & Le, 2025) có đặc điểm nhận dạng: kích thước nhỏ (SVL 33,9–36,9 mm ở con đực; 37,9–44,4 mm ở con cái); đầu dài hơn rộng; răng lá mía không có hoặc phát triển yếu; mõm ngắn (SE/SVL 0,15–0,17 ở con đực; 0,14–0,16 ở con cái); màng nhĩ nhỏ (TD/ED 0,26–0,37 ở con đực; 0,25–0,35 ở con cái); không có rãnh quanh rìa ở ngón tay thứ nhất; đĩa ngón tay III lớn hơn màng nhĩ; có nếp gấp trên màng nhĩ; không có nếp gấp bên lưng; công thức màng bơi: I0–1II0–1III0–1IV1–0V; có một dải gai nhỏ hoặc nốt sần nhỏ chạy từ dưới lỗ mũi, dọc theo môi trên, quanh nửa dưới của mắt, giữa màng nhĩ và mắt và trục sau của xương hàm dưới. Da dạng hạt sần ở hai bên sườn và bề mặt bụng của cơ thể. Khi còn sống, thân lưng có màu nâu sẫm với các đốm xám xanh, đồng và xanh lục vàng hoặc xanh lục nhạt pha đồng có viền sáng; mặt bụng họng, ngực và bụng màu kem nhạt với các chấm trắng; con đực không có túi kêu; chai sinh dục ở ngón I không có lông nhung và không có gai. Trong phân tích phát sinh loài sử dụng sự kết hợp của các gen RNA ribosome 16S ty thể, ND2 và cytochrome b (cyt b), loài mới được xác định là thành viên khác biệt nhất về mặt di truyền của nhóm Amolops mantzorum với khoảng cách di truyền ≥ 1,53% ở rRNA 16S, ≥ 8,70% ở ND2 và ≥ 8,56% ở cyt b so với các thành viên khác trong giốn Amolops.

Hai loài Amolops cuongi và A. minutus được tìm thấy trong cùng khu vực phân bố ở rừng thường xanh của tỉnh Lai Châu. Amolops cuongi có thể phân bố rộng rãi hơn và có khả năng ở độ cao thấp hơn so với A. minutus.

Các nghiên cứu trong tương lai nên hướng tới việc làm sáng tỏ thêm thông tin về vòng đời, bao gồm việc xác định môi trường sinh sản và mô tả khoa học chính thức về tiếng kêu và ấu trùng.

Mô tả về Amolops cuongi càng làm nổi bật tầm quan trọng của dãy núi Hoàng Liên Sơn như một khu vực có sự đa dạng loài lưỡng cư đặc biệt. Mười loài lưỡng cư đã được mô tả từ dãy núi Hoàng Liên Sơn là loài mới đối với khoa học trong thập kỷ qua. Các cuộc khảo sát tiếp theo ở Vườn quốc gia Hoàng Liên chắc chắn sẽ tiếp tục phát hiện mới trong tương lai. 

Phạm Văn Anh, Nguyễn Hữu Hạnh, Lã Văn Tới

Xem chi tiết tại: https://vqghl.laocai.gov.vn/bao-ton--phat-trien-sv/vuon-quoc-gia-hoang-lien-phat-hien-loai-ech-bam-da-moi-cho-khoa-hoc-1553089?fbclid=IwY2xjawOSOxFleHRuA2FlbQIxMABicmlkETFrM1ZWNWczTENjNnhxbWZDc3J0YwZhcHBfaWQQMjIyMDM5MTc4ODIwMDg5MgABHqLJG2y3P2x-RaTTDab1YQt9c-RQx7sPfnXIDyvPG1V9swajxPleUQRE3BZN_aem_4OEuwEGtvzYNWtzZF9ir_Q

Một số hình ảnh:

 

Ảnh mẫu chuẩn phụ của loài Amolops cuongi (ảnh từ bài báo của Nhóm nghiên cứu)

Bản đồ phân bố của loài Amolops cuongi ở dãy Hoàng Liên (ảnh từ bài báo của Nhóm nghiên cứu)